THÔNG BÁO NGHỈ LỄ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

Lịch nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương

Lịch nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương
(Dangbodanang.vn) – Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu nghị quyết không chỉ đúng, mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra “độ trễ” nghị quyết.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương
Trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tinh thần phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật thực thi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát và tổ chức hành động đến cùng, để đưa Nghị quyết Đại hội XIV nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập một tầm nhìn lịch sử. Dư luận và nhân dân đang rất quan tâm đến việc làm thế nào để những quyết sách lớn sớm đi vào thực tiễn. Đồng chí đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải triệt tiêu “độ trễ” và chuyển mạnh từ “nói” sang “làm” và “làm hiệu quả”. Xin đồng chí cho biết rõ hơn về tư duy hành động này trong bối cảnh hiện nay?
Đồng chí Tô Lâm: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là kết tinh trí tuệ, ý chí và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc; giá trị của nghị quyết chỉ được khẳng định đầy đủ khi được tổ chức thực hiện bằng hành động quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, mọi thành tựu của đất nước đều gắn với những giai đoạn mà chủ trương đúng được chuyển hóa thành kết quả cụ thể, trong đó khâu tổ chức thực hiện giữ vai trò then chốt.
Chúng ta thẳng thắn nhìn nhận rằng, điểm nghẽn lớn hiện nay không nằm ở chỗ thiếu đường lối, mà nằm ở năng lực biến đường lối thành chuyển biến phát triển cụ thể. Hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, kỷ luật, kỷ cương hành chính và chất lượng thực thi chính sách ở một số nơi vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển đất nước. Vì vậy, tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ này là phải biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm có hiệu quả.
Giai đoạn 5-10 năm tới có ý nghĩa quyết định đối với các mục tiêu chiến lược của Đảng và đất nước. Nếu chúng ta để lãng phí dù chỉ một khoảng thời gian ngắn vì chần chừ, né tránh, làm việc theo lối cũ hoặc trông chờ, đùn đẩy trách nhiệm, thì cái giá phải trả ít nhất là đánh mất cơ hội phát triển của cả dân tộc.
Vì vậy, mệnh lệnh hành động lúc này là phải chuyển thật mạnh từ “nhận thức đúng” sang “triển khai hiệu quả”, từ “ban hành chủ trương” sang “tạo ra sản phẩm và kết quả thực tế”. Mọi cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải gương mẫu đi đầu, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả thực chất, để nhân dân được thụ hưởng ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ.
Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trong nhiệm kỳ này, việc cải cách phương thức tổ chức thực hiện được đặt ra như thế nào để chuyển mạnh từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên kết quả, nhằm triệt tiêu tình trạng “nghẽn” ở khâu thực thi?
Đồng chí Tô Lâm: Đại hội XIV xác định thể chế là “đột phá của đột phá”, đi trước mở đường. Thể chế không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà phải trở thành động lực phát triển, giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực xã hội và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Muốn triệt tiêu tình trạng “nghẽn”, trước hết phải đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện.
Thứ nhất, phải quyết liệt rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, quy trình, thủ tục để tháo gỡ mọi điểm nghẽn. Tinh thần là vướng mắc ở cấp nào thì cấp đó phải chủ động sửa đổi, không trông chờ, không đùn đẩy trách nhiệm. Phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý, cấp phép sang kiến tạo phát triển và phục vụ; từ nặng tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm ở những lĩnh vực đủ điều kiện; từ cách làm thiên về thủ tục sang cách làm thiên về kết quả.
Thứ hai, phải thay đổi thước đo đánh giá. Không thể tiếp tục lấy độ dày của báo cáo hay số lượng cuộc họp làm căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Đánh giá một tổ chức, một cán bộ phải nhìn vào sản phẩm phát triển cụ thể, vào tiến độ công việc, vào hiệu quả xã hội, vào mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Mọi chương trình hành động đều phải được lượng hóa, đo lường được và có lộ trình rõ ràng.
Thứ ba, phải tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Việc Trung ương quyết định chuyển Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam từ cơ quan thuộc Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng thời tiếp nhận các đảng bộ của 5 cơ quan này từ Đảng ủy Chính phủ sang Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, chính là một bước điều chỉnh tổ chức rất quan trọng. Đây không chỉ là sắp xếp đầu mối, mà còn là điều chỉnh phương thức lãnh đạo để tăng cường sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Trung ương đối với những lĩnh vực đặc biệt quan trọng về tư tưởng, truyền thông và khoa học chiến lược.
Thứ tư, mọi chương trình, đề án, dự án lớn đều phải xác định rõ mục tiêu, tiến độ, người chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát. Có như vậy mới chấm dứt được tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “đúng về tinh thần nhưng tắc ở khâu thực hiện”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc sáng ngày 20/1/2026
Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đồng chí đã chỉ rõ việc thực hiện nghị quyết phải gắn liền với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó yếu tố con người và công tác chính trị, tư tưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vậy yêu cầu cốt lõi đặt ra hiện nay là gì, thưa đồng chí?
Đồng chí Tô Lâm: Trong giai đoạn mới, đổi mới phương thức lãnh đạo phải hướng tới xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, kỷ cương, minh bạch, hiệu quả và phục vụ nhân dân. Muốn vậy, yếu tố quyết định vẫn là con người – trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là có phẩm chất và năng lực chung, mà phải có bản lĩnh thực thi, có tư duy hành động thực chất, có khả năng tổ chức công việc đến cùng và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Đi liền với đó, phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Hội nghị Trung ương 2 vừa qua đã ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Đây là nội dung rất mới, rất cần trong giai đoạn hiện nay, bởi chúng ta đang triển khai nhiều chủ trương lớn cùng lúc, cải cách mạnh, đổi mới mạnh; nếu không giữ vững nền tảng chính trị, không tạo được sự thống nhất cao trong Đảng và đồng thuận trong xã hội, thì chủ trương đúng cũng khó đi đến kết quả như mong muốn.
Công tác chính trị, tư tưởng phải thực sự đi trước, mở đường; không thể làm theo kiểu hình thức hay chỉ dừng ở khâu quán triệt, học tập nghị quyết cho đủ thủ tục. Điều cốt lõi là phải cụ thể hóa các yêu cầu về chính trị, tư tưởng thành trách nhiệm của từng cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, củng cố niềm tin, xây dựng bản lĩnh chính trị, nâng cao tính chiến đấu và tạo động lực để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.
Đối với đội ngũ cán bộ, phải kiên quyết khắc phục tình trạng giỏi tham mưu nhưng yếu tổ chức thực hiện. Trong tổ chức thực hiện, phải bảo đảm “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả. Không để tình trạng lấy tập thể để che lấp trách nhiệm cá nhân; đồng thời phải có cơ chế bảo vệ những người dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Đảng cầm quyền phải quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Quyết định bổ nhiệm cho 6 Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Công an, Bộ trưởng Ngoại giao. Thủ tướng Lê Minh Hưng và nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính tặng hoa chúc mừng các đồng chí mới được bổ nhiệm – Ảnh: qdnd.vn
Để bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết mới của Trung ương được triển khai nghiêm túc, hiệu quả, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng cần được đổi mới ra sao, thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước?
Đồng chí Tô Lâm: Kiểm tra, giám sát không phải là công việc làm sau cùng, càng không chỉ là xử lý sai phạm khi sự việc đã xảy ra. Đây là một phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng, là công cụ để kiểm soát quyền lực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, đúng hướng.
Trước hết, phải quán triệt và tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết mới của Trung ương về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Việc Trung ương ban hành nghị quyết mới trong lĩnh vực này cho thấy yêu cầu của giai đoạn phát triển hiện nay là rất cao: Phát triển nhanh phải đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương; cơ chế thông thoáng hơn thì kiểm soát quyền lực phải chặt chẽ hơn; phân cấp, phân quyền mạnh hơn thì trách nhiệm chính trị phải rõ hơn.
Thứ hai, phải chuyển mạnh công tác kiểm tra, giám sát sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; phát hiện nguy cơ ngay trong quá trình vận hành, không để hạn chế, khuyết điểm tích tụ thành sai phạm lớn. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, từng chi bộ, từng đảng viên đều phải xác định đây là trách nhiệm chính trị của mình; không thể khoán trắng cho cơ quan kiểm tra. Kiểm tra phải gắn với từng chương trình hành động, từng nhiệm vụ trọng tâm, từng dự án, từng cam kết của người đứng đầu.
Thứ ba, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp làm trưởng đoàn để kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương tại toàn bộ các tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, trong đó có các đảng ủy ở Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy. Tinh thần là vừa kiểm tra, giám sát, vừa đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vừa phát hiện cách làm mới để nhân rộng, chứ không làm theo kiểu hình thức, đối phó.
Bản thân tôi cũng đã trực tiếp làm việc, dự hội nghị triển khai với Quân ủy Trung ương, với Đảng ủy Công an Trung ương; đồng thời trực tiếp làm Trưởng đoàn kiểm tra, giám sát đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội và Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội. Điều đó thể hiện rất rõ yêu cầu nêu gương trong lãnh đạo, chỉ đạo: Đã xác định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng, thì lãnh đạo cấp cao phải trực tiếp làm, trực tiếp nghe, trực tiếp kiểm tra, trực tiếp chỉ đạo và trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả.
Mục tiêu cuối cùng là làm cho toàn hệ thống vận hành có kỷ luật hơn, minh bạch hơn, quyết liệt hơn và hiệu quả hơn. Kỷ luật phải để hành động tốt hơn; giám sát phải để kết quả rõ hơn; kiểm tra phải góp phần tháo gỡ khó khăn, siết chặt trách nhiệm, bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết của Trung ương được triển khai nghiêm túc, thống nhất, hiệu quả trong toàn Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Quân ủy Trung ương sáng 30/3/2026 – Ảnh: Báo Quân đội nhân dân
Năm 2026 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương có điều gì căn dặn cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam?
Đồng chí Tô Lâm: Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng tiên phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Quân đội càng phải phát huy tốt hơn truyền thống ấy, phải thật sự mẫu mực về bản lĩnh chính trị, tinh thần hành động, kỷ luật, hiệu quả công tác và chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết.
Trước hết, toàn quân phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và các chương trình hành động của Quân ủy Trung ương; nhưng quán triệt không dừng ở nhận thức, mà phải chuyển thành việc làm cụ thể ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị, từng cương vị công tác. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải xác định rõ việc gì cần làm ngay, việc gì là khâu đột phá, ai chịu trách nhiệm và kiểm tra bằng cách nào.
Toàn quân phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng, xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, khả năng sẵn sàng chiến đấu, quản lý kỷ luật, xây dựng chính quy, đẩy mạnh chuyển đổi số và tiến lên hiện đại.
Tôi đặc biệt lưu ý vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ. Cán bộ càng ở cương vị cao càng phải mẫu mực về tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm. Mỗi cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; phải được đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.
Kết quả thực hiện nghị quyết trong Quân đội phải được đo bằng chuyển biến thực chất trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, chấp hành kỷ luật và niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Quyết tâm cao phải biến thành kết quả rõ; hành động phải chắc, trúng và hiệu quả đến cùng. Quân đội phải tiếp tục là lực lượng đi đầu trong hành động, gương mẫu trong kỷ luật, nói đi đôi với làm, làm đến đâu chắc đến đó, “quyết tâm gấp mười lần, hành động gấp trăm lần”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới.
Trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương!
Theo Báo Quân Đội Nhân Dân
Link nguồn: Dangbodanang.vn
Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gia tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, mạng thế hệ mới (5G/6G) và năng lượng sạch, tiêu chuẩn hóa đang chuyển từ vai trò là một công cụ kỹ thuật hỗ trợ sang công cụ quyền lực thể chế có khả năng định hình cấu trúc thị trường, chuỗi giá trị và quỹ đạo phát triển công nghệ.
1. Giới thiệu
Theo Blind [1], tiêu chuẩn đóng vai trò như “hạ tầng mềm” của nền kinh tế, giúp giảm chi phí giao dịch và thúc đẩy đổi mới. Trong các ngành công nghệ cao, tiêu chuẩn còn là cơ chế phân bổ lợi ích trong chuỗi giá trị toàn cầu và có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn thông qua hiệu ứng mạng và chi phí chuyển đổi [3], [4].
Trong bối cảnh đó, khái niệm “quyền thiết lập tiêu chuẩn” (standard-setting power) ngày càng được sử dụng để phân tích cạnh tranh công nghệ. Quyền lực này phản ánh khả năng của quốc gia, doanh nghiệp hoặc liên minh thể chế trong việc tham gia, định hình nội dung tiêu chuẩn, qua đó ảnh hưởng đến cấu trúc thị trường và hệ sinh thái công nghệ [2], [8]. Quyền thiết lập tiêu chuẩn được cấu thành từ bốn trụ cột chính: năng lực khoa học – công nghệ, mức độ tham gia thể chế tiêu chuẩn quốc tế, khả năng huy động nguồn lực và quy mô thị trường.
Từ đó, tiêu chuẩn mang lại hai nhóm lợi thế chiến lược chính: lợi thế thị trường (giúp giảm chi phí tuân thủ, mở rộng khả năng tiếp cận và trong một số trường hợp có thể tạo rào cản kỹ thuật trong thương mại) và lợi thế công nghệ (cho phép định hướng quỹ đạo phát triển công nghệ và tạo hiệu ứng “khóa chặt” thông qua hệ sinh thái tương thích). Trong các ngành có tính mô-đun hóa và hiệu ứng mạng mạnh, tiêu chuẩn có thể tạo ra hiệu ứng “khóa chặt”, giúp các chủ thể dẫn dắt duy trì lợi thế dài hạn [3], [5]. Điều này giải thích vì sao tiêu chuẩn hóa ngày càng được tích hợp vào chiến lược công nghệ và công nghiệp của các quốc gia.
Mặc dù tiêu chuẩn hóa ngày càng được nhìn nhận như một công cụ quyền lực nhưng cách thức các quốc gia đang chuyển đổi có thể tham gia và gia tăng ảnh hưởng trong quá trình thiết lập tiêu chuẩn vẫn chưa được làm rõ đầy đủ. Bài báo đóng góp ở hai điểm chính: (i) làm rõ vai trò của tiêu chuẩn hóa như một dạng quyền lực thể chế trong các công nghệ chiến lược; và (ii) đề xuất cách tiếp cận “tham gia chủ động có chọn lọc” như một định hướng chính sách phù hợp giúp nâng cao vị thế Việt Nam trong bối cảnh mới.

Ảnh minh hoạ
2. Kinh nghiệm quốc tế
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tiêu chuẩn hóa được triển khai theo ba mô hình chính, phản ánh các cách tiếp cận khác nhau trong việc cân bằng giữa thị trường, thể chế và nhà nước.
2.1. Hoa Kỳ: Mô hình thị trường dẫn dắt
Hoa Kỳ đại diện cho mô hình tiêu chuẩn hóa phi tập trung, trong đó khu vực tư nhân đóng vai trò chủ đạo. Các doanh nghiệp công nghệ lớn tham gia sâu vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn thông qua các tổ chức tiêu chuẩn tự nguyện và liên minh công nghiệp.
Đặc trưng nổi bật của mô hình này là sự gắn kết chặt chẽ giữa tiêu chuẩn hóa, R&D và sở hữu trí tuệ. Việc nắm giữ các bằng sáng chế thiết yếu (SEPs) cho phép doanh nghiệp khai thác tiêu chuẩn như một nguồn lợi kinh tế dài hạn.
Tuy nhiên, mô hình này phụ thuộc mạnh vào năng lực công nghệ nội sinh và hệ sinh thái doanh nghiệp phát triển; trong bối cảnh thiếu các điều kiện này, việc áp dụng có thể dẫn đến sự lệ thuộc vào các chuẩn mực bên ngoài. Đồng thời, sự chi phối của các tập đoàn lớn cũng tiềm ẩn nguy cơ thiên lệch lợi ích và gia tăng rào cản gia nhập thị trường.
2.2. Liên minh châu Âu: Mô hình thể chế – giá trị
Liên minh châu Âu phát triển cách tiếp cận “quy chuẩn hóa thông qua tiêu chuẩn”, trong đó tiêu chuẩn đóng vai trò hỗ trợ thực thi các mục tiêu chính sách công như bảo vệ môi trường, an toàn sản phẩm và dữ liệu. Cách tiếp cận này giúp EU tạo ra ảnh hưởng toàn cầu (“Brussels effect”) thông qua quy mô thị trường và sức mạnh thể chế [12]. So với Hoa Kỳ, mô hình EU ưu tiên tính chính danh thể chế và mục tiêu xã hội hơn hiệu quả thị trường thuần túy.
Tuy nhiên, sự gắn kết chặt với hệ thống pháp lý cũng làm tăng chi phí tuân thủ và có thể làm chậm đổi mới.
2.3. Trung Quốc: Mô hình nhà nước dẫn dắt
Trung Quốc tích hợp tiêu chuẩn hóa trực tiếp vào chiến lược phát triển công nghiệp và công nghệ quốc gia. Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong điều phối và phân bổ nguồn lực, đồng thời thúc đẩy chiến lược “xuất khẩu tiêu chuẩn”. Xu hướng này được thể hiện rõ trong các chiến lược tiêu chuẩn quốc gia gần đây [9]. Mô hình này cho phép huy động nguồn lực quy mô lớn và đạt tiến bộ nhanh trong các lĩnh vực như 5G, AI và IoT.
So với EU và Hoa Kỳ, mô hình Trung Quốc nhấn mạnh khả năng điều phối tập trung nhằm đạt mục tiêu chiến lược trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên, hiệu quả dài hạn phụ thuộc vào mức độ chấp nhận của cộng đồng quốc tế, do tiêu chuẩn toàn cầu đòi hỏi tính minh bạch và đồng thuận cao.
2.4. Nhận xét
Ba mô hình phản ánh các cách tiếp cận khác nhau với những đánh đổi giữa hiệu quả đổi mới, tính chính danh thể chế và mức độ kiểm soát chiến lược. Có thể thấy, không tồn tại một mô hình tối ưu phổ quát; thay vào đó, hiệu quả của tiêu chuẩn hóa phụ thuộc vào sự phù hợp với bối cảnh thể chế và năng lực công nghệ của từng quốc gia.
3. Tình hình hiện tại ở Việt Nam
Việt Nam hiện chủ yếu tiếp cận theo “hài hòa tiêu chuẩn”, trong đó nhiều tiêu chuẩn quốc gia được xây dựng trên cơ sở tham khảo hoặc chấp nhận các tiêu chuẩn quốc tế (ISO, IEC, ITU). Cách tiếp cận này đã góp phần giảm rào cản kỹ thuật và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế [7].
Việt Nam đã từng bước tham gia vào các hoạt động tiêu chuẩn hóa quốc tế thông qua việc đóng góp ý kiến vào các dự thảo tiêu chuẩn quốc tế và tham gia các ban kỹ thuật. Tuy nhiên, mức độ tham gia này vẫn chủ yếu ở vai trò kỹ thuật, chưa có nhiều đóng góp mang tính dẫn dắt hoặc đề xuất tiêu chuẩn mới ở quy mô quốc tế. Theo ITU [10], đây cũng là đặc điểm phổ biến của nhiều quốc gia đang phát triển, khi việc tham gia tiêu chuẩn hóa quốc tế chủ yếu dừng ở mức tiếp nhận và tuân thủ.
Mối liên kết giữa tiêu chuẩn hóa và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam chưa thực sự đồng bộ. Phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn tiếp cận tiêu chuẩn như một yêu cầu tuân thủ, thay vì công cụ chiến lược gắn với hoạt động R&D và sở hữu trí tuệ.
Những hạn chế này có thể lý giải từ một số yếu tố mang tính cấu trúc, bao gồm: tiêu chuẩn hóa chưa được định vị rõ trong phát triển công nghệ; sự tham gia của doanh nghiệp còn hạn chế do chưa nhìn thấy lợi ích kinh tế trực tiếp từ tham gia tiêu chuẩn hóa quốc tế, trong khi chi phí tham dự các ban kỹ thuật quốc tế, duy trì chuyên gia và theo đuổi đề xuất tiêu chuẩn thường cao và kéo dài; và thiếu đội ngũ chuyên gia có khả năng kết nối giữa kỹ thuật, pháp lý và thị trường.
Ở góc độ tổng thể, Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ vị thế “tiếp nhận và áp dụng tiêu chuẩn” sang từng bước nâng cao vai trò tham gia. Tuy nhiên, tiềm năng sử dụng tiêu chuẩn như một công cụ cạnh tranh chiến lược vẫn chưa được khai thác đầy đủ.
4. Một số đề xuất cho Việt Nam
Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và bối cảnh thực tiễn, một số đề xuất dưới đây nhằm góp phần nâng cao vai trò của tiêu chuẩn hóa trong các công nghệ chiến lược tại Việt Nam.
Thứ nhất, cần chuyển từ “hài hòa thụ động” sang “tham gia chủ động có chọn lọc”: Việc tiếp cận tiêu chuẩn hóa theo hướng thụ động sẽ khó đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh công nghệ biến đổi nhanh. Thay vào đó, Việt Nam cần tập trung nguồn lực vào một số lĩnh vực có tiềm năng lợi thế và có doanh nghiệp dẫn dắt, qua đó từng bước nâng cao khả năng tham gia định hình tiêu chuẩn.
Thứ hai, tích hợp tiêu chuẩn hóa vào chính sách đổi mới sáng tạo. Trước hết, trong các nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, có thể bổ sung tiêu chí đánh giá liên quan đến khả năng đóng góp vào xây dựng tiêu chuẩn (ví dụ: tham gia ban kỹ thuật, đề xuất tiêu chuẩn mới hoặc chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành dự thảo tiêu chuẩn).
Theo đó, tiêu chuẩn hóa nên được xem là một đầu ra của hoạt động R&D, thông qua việc bổ sung các tiêu chí đánh giá liên quan đến đóng góp vào xây dựng tiêu chuẩn trong các nhiệm vụ khoa học và công nghệ [8], [11]. Đồng thời, trong cơ chế tài trợ R&D, có thể xem xét áp dụng các hình thức hỗ trợ ưu tiên ngân sách hoặc kéo dài thời gian tài trợ đối với các dự án có lộ trình tham gia tiêu chuẩn quốc tế tại các tổ chức như ISO, IEC và ITU.
Thứ ba, xây dựng “liên minh tiêu chuẩn – doanh nghiệp – viện nghiên cứu”: vận hành theo từng lĩnh vực cụ thể với doanh nghiệp dẫn dắt nhu cầu thị trường – viện nghiên cứu cung cấp nền tảng kỹ thuật – nhà nước hỗ trợ thể chế và tài chính. Đặc biệt, cần có cơ chế bảo đảm lợi ích thương mại đối với các sáng chế nội địa tham gia tiêu chuẩn. Cơ chế này giúp tăng khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành tiêu chuẩn và tạo động lực tham gia dài hạn.
Thứ tư, nâng cao năng lực tham gia tổ chức tiêu chuẩn quốc tế: lựa chọn một số ban kỹ thuật ưu tiên, gắn với các lĩnh vực đã có nền tảng hoặc lợi thế nhất định (ví dụ: chuyển đổi số, năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh), từng bước nâng cấp mức độ tham gia từ “thành viên O” lên “thành viên P”, tiến tới đảm nhiệm vai trò chủ trì kỹ thuật (chair/co-chair hoặc convenor nhóm công tác) trong một số chủ đề hẹp nhưng có tính chiến lược.
Đồng thời chuyển từ “tiếp nhận tiêu chuẩn” sang chủ động đóng góp nội dung kỹ thuật, thông qua việc chuẩn bị các đề xuất tiêu chuẩn dựa trên kết quả nghiên cứu trong nước hoặc nhu cầu thị trường cụ thể. Gắn các đề tài/dự án R&D trọng điểm với đầu ra tiêu chuẩn hóa cụ thể, thay vì chỉ dừng ở công bố khoa học. Đặc biệt cần xây dựng đội ngũ chuyên gia tiêu chuẩn nòng cốt, có năng lực kỹ thuật và kỹ năng đàm phán quốc tế, được đầu tư dài hạn.
5. Kết luận
Tiêu chuẩn hóa trong các công nghệ chiến lược đã vượt ra ngoài phạm vi kỹ thuật thuần túy, trở thành một công cụ định hình quyền lực công nghệ và cấu trúc thị trường toàn cầu. Việc tham gia và định hình tiêu chuẩn không chỉ giúp thiết lập “luật chơi” mà còn tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho quốc gia và doanh nghiệp.
Đối với Việt Nam, chuyển dịch từ vị thế “thụ động áp dụng” sang “chủ động tham gia kiến tạo tiêu chuẩn” là một yêu cầu mang tính chiến lược. Quá trình này đòi hỏi sự kết hợp giữa lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, tích hợp tiêu chuẩn hóa vào hệ thống đổi mới sáng tạo và đầu tư có trọng điểm cho nguồn lực chuyên gia.
Trong bối cảnh trật tự công nghệ toàn cầu đang tái cấu trúc, tiêu chuẩn hóa không chỉ phản ánh mà còn có thể định hình vị thế của Việt Nam trong cấu trúc cạnh tranh công nghệ toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ. Trong dài hạn, năng lực tham gia thiết lập tiêu chuẩn sẽ là chỉ dấu quan trọng phản ánh mức độ trưởng thành của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
[1] Blind, K. (2013). The impact of standardization and standards on innovation. Nesta Working Paper No. 13/15, Nesta.
[2] Mattli, W., & Büthe, T. (2003). Setting international standards: Technological rationality or primacy of power? World Politics, 56(1), 1 – 42.
[3] Gandal, N. (2002). Compatibility, standardization, and network effects: Some policy implications. Oxford Review of Economic Policy, 18(1), 80–91.
[4] Farrell, J., & Saloner, G. (1988). Coordination through committees and markets. The RAND Journal of Economics, 19(2), 235–252.
[5] Tassey, G. (2000). Standardization in technology-based markets. Research Policy, 29(4–5), 587–602.
[6] Organisation for Economic Co-operation and Development (2021). Standards and innovation policy. Paris: OECD Publishing.
[7] World Trade Organization (2020). Standards and Trade Development Facility Report. Geneva: WTO.
[8] Organisation for Economic Co-operation and Development (2023). Technology governance and standards. Paris: OECD Publishing.
[9] State Council of the People’s Republic of China (2021). National Standardization Development Outline.
[10] International Telecommunication Union (2023). Measuring digital development: Facts and figures 2023.
[11] World Economic Forum (2022). Shaping the future of technology governance.
[12] Bradford, A. (2020). The Brussels Effect: How the European Union Rules the World. New York: Oxford University Press.
TS. Triệu Việt Phương – ThS. Đoàn Thị Thanh Vân
(Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam)
Link nguồn: STAMEQ
Hiện nay, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2 đang có nhu cầu tuyển dụng với vị trí như sau:
1. Vị trí tuyển dụng: Nhân viên Lái xe
2. Số lượng: 01 người Độ tuổi: từ 23 đến 50 Giới tính: Nam
3. Yều cầu Giấy phép lái xe: Hạng C trở lên (ưu tiên người có chứng chỉ vận hành xe Cẩu tải).
4. Kinh nghiệm: Có kinh nghiệm lái xe từ 01 năm trở lên (đã từng làm việc tại các đơn vị kỹ thuật, xây dựng hoặc lĩnh vực liên quan).
5. Yêu cầu khác:
– Có sức khỏe tốt, tinh thần trách nhiệm cao, có khả năng làm việc độc lập và chịu được áp lực công việc.
– Sẵn sàng đi công tác xa, dài ngày khi được phân công.
6. Đơn vị công tác:
– Phòng Hành chính – Tổ chức, Trung tâm Kỹ thuật 2;
– Địa chỉ: Số 02 Ngô Quyền, phường Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
7. Yêu cầu hồ sơ (01 bộ, bản cứng) gồm:
– Đơn xin việc;
– Sơ yếu lý lịch có xác nhận của chính quyền địa phương;
– Giấy khám sức khỏe;
– Bản sao: Giấy phép Lái xe, căn cước công dân.
8. Hồ sơ gửi về Phòng Hành chính – Tổ chức, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2 – Số 02 Ngô Quyền, phường Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đến hết ngày 10/4/2026.
💬Mọi chi tiết xin liên hệ với chị Phạm Thị Nhung, Chuyên viên Phòng Hành chính – Tổ chức, SĐT: 0935 595 699.
🌐Thông báo này được đăng tải trên Website: www.quatest2.gov.vn/tuyen-dung/.
Trân trọng./.
——————————-
Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2
🏢 Địa chỉ: 97 Lý Thái Tổ, phường Thanh Khê & 02 Ngô Quyền, phường Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
☎ Điện thoại: (0236) 3848376
🌏 Website: www.quatest2.gov.vn
Ngày 20/03/2026, được sự đồng ý của Đảng ủy và Ban Giám đốc, Chi đoàn Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2 (Trung tâm Kỹ thuật 2) đã tổ chức Chương trình “Gặp mặt kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2026) và Đối thoại giữa Đảng ủy với Đoàn Thanh niên” nhằm ôn lại truyền thống vẻ vang của tổ chức Đoàn, đồng thời tăng cường công tác lãnh đạo, định hướng đối với đoàn viên, thanh niên trong giai đoạn mới.

Quang cảnh buổi gặp mặt
Phát biểu khai mạc chương trình, ông Lê Mạnh Hùng, Bí thư Chi đoàn đã nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của chặng đường 95 năm xây dựng và trưởng thành của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh), khẳng định vai trò xung kích, sáng tạo của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Tại chương trình, các đoàn viên cùng nhau ôn lại truyền thống của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và quá trình hình thành, phát triển của Chi đoàn Trung tâm Kỹ thuật 2, qua đó góp phần bồi đắp niềm tự hào, nâng cao nhận thức chính trị và tư tưởng.

Ông Lê Mạnh Hùng, Bí thư Chi đoàn Trung tâm Kỹ thuật 2 trình bày
Chương trình cũng ghi nhận ý kiến phát biểu chia sẻ của ông Bùi Văn Tuyên, đại diện Cán bộ đoàn tiêu biểu giai đoạn 2012–2022, thể hiện sự kế thừa, phát triển liên tục trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên tại đơn vị. Nhân dịp này, Chi đoàn đã tổ chức trao tặng quà lưu niệm nhằm tri ân các cá nhân có đóng góp tích cực cho công tác Đoàn.

Trong khuôn khổ chương trình, Chi đoàn đã công bố các quyết định khen thưởng đối với đoàn viên có thành tích tiêu biểu trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Trung tâm và của Đoàn UBND thành phố, đồng thời tổ chức Lễ trưởng thành Đoàn, trao quà lưu niệm cho các đoàn viên trưởng thành, ghi nhận quá trình rèn luyện, cống hiến của các đồng chí trong thời gian tham gia tổ chức Đoàn.

Trao quà lưu niệm cho các đoàn viên trưởng thành

Trao quà cho các đoàn viên có thành tích tiêu biểu
Tiếp theo chương trình “Gặp mặt kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” là nội dung đối thoại giữa Đảng ủy với Đoàn Thanh niên – một nội dung được tổ chức riêng nhằm trao đổi, lắng nghe và định hướng hoạt động trong thời gian tới. Tại đây, đoàn viên, thanh niên đã thẳng thắn trao đổi, đề xuất các ý kiến liên quan đến công tác chuyên môn, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trẻ, đặc biệt là nhu cầu nâng cao năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động chuyên môn, chuyển đổi số, cũng như tăng cường trình độ tiếng Anh nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, các ý kiến cũng tập trung vào định hướng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động Đoàn trong thời gian tới. Ông Tạ Ngọc Tú – Bí thư Đảng ủy, Quyền Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật 2 đã trực tiếp lắng nghe, giải đáp và định hướng, nhấn mạnh vai trò của việc chủ động tiếp cận công nghệ mới, nâng cao năng lực ngoại ngữ, qua đó tạo sự đồng thuận, tăng cường mối liên hệ giữa cấp ủy với lực lượng thanh niên trong đơn vị.

Ông Tạ Ngọc Tú – Bí thư Đảng ủy, Quyền Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật 2 phát biểu

Kết thúc chương trình, Chi đoàn đã phát động phong trào thi đua trong đoàn viên, thanh niên năm 2026, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng chuyên môn, phát huy tinh thần sáng tạo, góp phần thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của Trung tâm Kỹ thuật 2.
Chương trình diễn ra thành công tốt đẹp, thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật 2 đối với công tác Đoàn và phong trào thanh niên; đồng thời khẳng định vai trò, vị trí của tổ chức Chi đoàn Trung tâm Kỹ thuật 2 trong việc xây dựng nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đơn vị trong giai đoạn mới.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường tập trung vào ba nhóm chính sách lớn, hướng tới hiện đại hóa quản lý, nâng cao năng lực hệ thống đo lường quốc gia và tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
Trước yêu cầu mới của thực tiễn phát triển, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Luật Đo lường đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được rà soát, đánh giá toàn diện. Vì vậy, việc sửa đổi Luật cần thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng, đồng bộ hệ thống pháp luật hiện hành với trọng tâm định hướng chính sách.
Theo ông Trần Quý Giầu – Trưởng ban Ban Đo lường, Uỷ ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia có 03 nhóm chính sách sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường. Cụ thể, chính sách 1: Chuyển đổi số toàn diện hoạt động đo lường. Mục tiêu của chính sách 1 là hiện đại hóa phương thức quản lý nhà nước về đo lường thông qua chuyển đổi số toàn diện; chuyển từ phương thức quản lý truyền thống dựa trên kiểm soát thủ công sang phương thức quản lý dựa trên dữ liệu đo lường, nền tảng số và đánh giá rủi ro, nhằm nâng cao tính minh bạch, thuận tiện, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Luật sửa đổi hướng tới xây dựng khung pháp lý tiên phong về chuyển đổi số hoạt động đo lường, chủ động định hình mô hình quản lý đo lường số trong bối cảnh phát triển kinh tế số và xã hội số.

Ông Trần Quý Giầu – Trưởng ban Ban Đo lường, Uỷ ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia
Nội dung chính của chính sách 1 là hình thành và phát triển các nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia về đo lường. Thực hiện định danh duy nhất và quản lý vòng đời phương tiện đo trên môi trường số. Thừa nhận giá trị pháp lý của hồ sơ, tem và chứng chỉ đo lường điện tử. Bên cạnh đó, khai thác dữ liệu đo lường phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra theo mức độ rủi ro. Khai thác dữ liệu đo lường để hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng, đổi mới sáng tạo và quản lý rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Chính sách 2: Nâng cao năng lực hệ thống đo lường quốc gia; phát huy vai trò doanh nghiệp tham gia xây dựng năng lực hệ thống đo lường quốc gia. Mục tiêu của chính sách 2 là củng cố và nâng cao năng lực hệ thống đo lường quốc gia theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội cùng Nhà nước đầu tư, vận hành hạ tầng đo lường quốc gia; đồng thời nâng cao năng lực tự bảo đảm đo lường của doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là chủ thể trung tâm của hệ thống đo lường. Hoạt động đo lường được xác định là hạ tầng kỹ thuật tạo lập độ tin cậy và niềm tin xã hội, phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Nội dung chính của chính sách 2 là đầu tư, nâng cao năng lực hệ thống chuẩn đo lường quốc gia và hạ tầng kỹ thuật đo lường. Nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân lực làm công tác đo lường từ trung ương đến địa phương và tại doanh nghiệp. Tăng cường đào tạo, nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về vai trò, vị trí của đo lường. Phát huy vai trò của doanh nghiệp trong đầu tư, cung ứng và vận hành các hoạt động đo lường. Ưu tiên nâng cao năng lực đo lường phục vụ công nghệ mới, năng lượng mới, nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược; phục vụ nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo; đáp ứng yêu cầu đo lường trong các lĩnh vực của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tín chỉ carbon và các đối tượng đo trong không gian số.
Thúc đẩy gắn kết hoạt động đo lường với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng suất và chất lượng. Hoàn thiện cơ chế thừa nhận kết quả đo lường của nước ngoài trong trường hợp trong nước chưa đủ năng lực. Nâng cao năng lực tự bảo đảm đo lường của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm kiểm soát nội bộ, tuân thủ pháp luật, phòng ngừa rủi ro và trách nhiệm giải trình với người tiêu dùng.
.jpg)
Việc sửa đổi Luật cần thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng, đồng bộ hệ thống pháp luật hiện hành với trọng tâm định hướng chính sách
Chính sách 3: Phân định thẩm quyền quản lý nhà nước về đo lường và điều chỉnh một số quy định cho phù hợp với thực tiễn. Mục tiêu của chính sách 3 là thể chế hóa đầy đủ việc phân định thẩm quyền giữa trung ương và chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực đo lường; điều chỉnh các quy định pháp luật liên quan nhằm bảo đảm triển khai hiệu quả mô hình quản lý đo lường mới, giảm chồng chéo, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Nội dung chính sách của chính sách 3 là rà soát, điều chỉnh các quy định pháp luật về đo lường để phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước giữa trung ương và chính quyền địa phương 2 cấp. Hoàn thiện cơ chế pháp lý về thanh tra, kiểm tra nhà nước về đo lường theo hướng quản lý dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro. Điều chỉnh điều kiện hoạt động của tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo hướng phù hợp với thực tiễn. Bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận dấu định lượng nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Như vậy, các nội dung của chính sách được đề xuất sửa đổi, bổ sung tại dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường nhằm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ trong việc: “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng” theo Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/7/2024 của Ban Bí thư; “sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ các quy định pháp luật” theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị; “Cắt giảm, đơn giản hoá ngay thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bảo đảm bãi bỏ ít nhất 30% điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết” theo Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ;
“Đẩy mạnh các hoạt động về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, trong đó ưu tiên triển khai mạnh mẽ hạ tầng chất lượng quốc gia theo hướng tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, đồng bộ, hiện đại và gắn với công nghiệp 4.0, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nâng cao năng suất dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo” theo Nghị quyết 154/NQ-CP năm 2025 ngày 31/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ; “Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực chuyên ngành để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh trong tiến trình chuyển đổi số, khuyến khích đổi mới, sáng tạo” theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ; “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước” theo Nghị quyết số 04/NQ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ. Đồng thời, nội dung chính sách cũng không có quy định ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh của đất nước và cam kết điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Việc sửa đổi Luật Đo lường góp phần hoàn thiện đồng bộ 03 trụ cột tiêu chuẩn – đo lường – đánh giá sự phù hợp/công nhận trong Hạ tầng chất lượng quốc gia; thúc đẩy quản lý dựa trên dữ liệu, tăng năng lực cảnh báo sớm, bảo vệ người tiêu dùng và tạo thuận lợi thương mại.
Theo VietQ
(Dangbodanang.vn) – Kế thừa và phát triển những luận điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về vai trò của thanh niên trong tiến trình lịch sử, V.I. Lênin đã bổ sung và hoàn thiện hệ thống quan điểm về vị trí, vai trò của thanh niên trong điều kiện mới của cách mạng vô sản và sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Những tư tưởng của Lênin về thanh niên và công tác thanh niên đến nay vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo các quan điểm này có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy trí tuệ, sức trẻ và tinh thần cống hiến của thanh niên, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội như tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.

Thanh niên là lực lượng xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong ảnh: Thành đoàn Đà Nẵng tổ chức lễ phát động Tháng Thanh niên năm 2026. Ảnh: NGỌC PHÚ/Báo và phát thanh, truyền hình Đà Nẵng
Tư tưởng của V.I. Lênin về vị trí, vai trò của thanh niên trong cách mạng và xây dựng xã hội mới
Trong hệ thống tư tưởng của Lênin, vấn đề thanh niên và tổ chức thanh niên giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Lênin không chỉ nhìn nhận thanh niên như một bộ phận của lực lượng xã hội mà còn coi đây là nguồn sinh lực mới của cách mạng, lực lượng kế tục sự nghiệp của giai cấp công nhân và của Đảng Cộng sản trong tiến trình cải biến xã hội. Quan điểm của Lênin về thanh niên được hình thành và phát triển trong bối cảnh phong trào cách mạng Nga đầu thế kỷ XX, khi lực lượng sinh viên, trí thức trẻ và công nhân trẻ ngày càng đóng vai trò tích cực trong các phong trào đấu tranh chống chế độ chuyên chế Nga hoàng. Trên cơ sở vận dụng và phát triển học thuyết của C. Mác và Ph. Ăngghen về vai trò của con người trong lịch sử, Lênin đã đưa ra nhiều luận điểm sâu sắc về vị trí, vai trò của thanh niên trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong công cuộc xây dựng xã hội mới.
Trước hết, Lênin khẳng định thanh niên là lực lượng xã hội giàu tiềm năng cách mạng, mang trong mình sức sống, tinh thần đổi mới và khả năng tiếp nhận những tư tưởng tiến bộ của thời đại. Theo Lênin, mọi đảng phái chính trị đều nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thu hút và tổ chức thanh niên, bởi đây là lực lượng có ảnh hưởng lớn đến tương lai chính trị của xã hội. Trong tác phẩm “Nhiệm vụ của thanh niên cách mạng (1903)”, Lênin nhấn mạnh rằng: “Trong một đất nước văn minh, không một đảng phái chính trị nào lại không hiểu được lợi ích to lớn của những tổ chức sinh viên và công đoàn được xây dựng rộng rãi và vững chắc; mọi đảng phái đều cố gắng mở rộng ảnh hưởng của mình trong các tổ chức ấy”[1]. Nhận định này cho thấy Lênin nhìn nhận thanh niên không chỉ với tư cách lực lượng dự bị của cách mạng, mà còn là môi trường cạnh tranh ảnh hưởng chính trị giữa các khuynh hướng tư tưởng khác nhau trong xã hội.
Quan điểm này tiếp tục được Lênin khẳng định rõ hơn khi phân tích vai trò của thế hệ trẻ trong tiến trình phát triển của phong trào cách mạng. Theo Lênin, cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ là sự thay đổi về chế độ chính trị mà còn là quá trình thay đổi thế hệ lịch sử, trong đó thanh niên giữ vai trò chủ thể kế tục và phát triển những thành quả của cách mạng. Trong tác phẩm “Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa Menshevism (1906)”, Lênin trích dẫn nhận định của Engels để nhấn mạnh vai trò tiên phong của thanh niên: “Không phải thanh niên thống trị đảng cách mạng của chúng ta sao? Chúng ta là đảng của tương lai, mà tương lai thuộc về thanh niên. Chúng ta là đảng của những người đổi mới, và thanh niên luôn sẵn sàng đi theo”[2]. Luận điểm này thể hiện cách nhìn chiến lược của Lênin trong nhìn nhận sức mạnh của một đảng cách mạng không chỉ nằm ở đội ngũ lãnh đạo hiện tại, mà còn phụ thuộc vào khả năng thu hút, giáo dục và tổ chức thế hệ trẻ.
Một nội dung quan trọng khác trong tư tưởng của Lênin là nhấn mạnh mối quan hệ giữa thanh niên và tổ chức cách mạng. Theo Lênin, thanh niên chỉ có thể phát huy đầy đủ vai trò của mình khi được tổ chức và định hướng bởi một lực lượng chính trị tiên phong. Chính vì vậy, ông đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các tổ chức thanh niên gắn bó chặt chẽ với Đảng Cộng sản. Trong nhiều bài viết và bài phát biểu, Lênin khẳng định rằng việc tổ chức thanh niên không chỉ nhằm mục đích giáo dục chính trị, mà còn tạo môi trường để thanh niên rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh xã hội. Ông nhấn mạnh rằng nhiệm vụ của tổ chức thanh niên cộng sản là huy động thanh niên tham gia trực tiếp vào các hoạt động xã hội, từ sản xuất, lao động đến đấu tranh chính trị. Lênin từng chỉ rõ: “Sứ mệnh của Đoàn Thanh niên Cộng sản là giúp làm một việc gì đó ở nông thôn hoặc trên chính con phố của mình”[3]. Như vậy, đối với Lênin, thanh niên không chỉ là lực lượng cần được rèn luyện trên mặt trận tư tưởng mà phải được rèn luyện trong thực tiễn xã hội cụ thể.
Đặc biệt, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, tư tưởng của Lênin về thanh niên tiếp tục được phát triển trong bối cảnh mới phù hợp hơn khi nhiệm vụ trung tâm của cách mạng không còn là lật đổ chế độ cũ mà là xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn này, Lênin nhấn mạnh vai trò của thanh niên trong việc học tập, tiếp thu tri thức khoa học và tham gia xây dựng nền kinh tế – xã hội mới. Trong bài phát biểu nổi tiếng “Nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên” tại Đại hội III Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga năm 1920, Lênin khẳng định: “Nhiệm vụ của thanh niên là học tập… Học tập chủ nghĩa cộng sản không phải chỉ học thuộc lòng những khẩu hiệu, mà phải biết kết hợp tri thức của toàn nhân loại với thực tiễn xây dựng xã hội mới”. Quan điểm này thể hiện tầm nhìn sâu rộng của Lênin về vai trò của tri thức và giáo dục đối với thế hệ trẻ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Một điểm đặc sắc trong tư tưởng của Lênin là sự kết hợp giữa niềm tin mạnh mẽ vào tiềm năng của thanh niên với yêu cầu nghiêm khắc về kỷ luật và rèn luyện. Lênin luôn khuyến khích các cán bộ đảng tin tưởng và giao nhiệm vụ cho thanh niên, đồng thời cảnh báo về tâm lý bảo thủ, e dè của một số cán bộ khi sử dụng lực lượng trẻ. Trong nhiều bức thư gửi các đồng chí Bônsêvích đầu thế kỷ XX, Lênin từng nhấn mạnh cần “tin cậy hơn nữa vào thanh niên, mạnh dạn dựa vào những người cộng sản trẻ trong công tác thực tế hằng ngày, và lôi cuốn đông đảo thanh niên vào cuộc đấu tranh cách mạng”[4]. Lời kêu gọi này phản ánh quan điểm nhất quán của Lênin rằng sự phát triển của phong trào cách mạng gắn liền với khả năng, sức sáng tạo của thế hệ trẻ.
Từ những phân tích trên có thể thấy, tư tưởng của Lênin về thanh niên bao gồm ba nội dung cơ bản. Thứ nhất, thanh niên là lực lượng xã hội có tiềm năng cách mạng to lớn, là nguồn sinh lực và là đội quân dự bị của cách mạng. Thứ hai, thanh niên cần được tổ chức, giáo dục và rèn luyện trong các tổ chức cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Thứ ba, trong giai đoạn xây dựng xã hội mới, nhiệm vụ trung tâm của thanh niên là học tập, tiếp thu tri thức khoa học và tích cực tham gia vào quá trình lao động sáng tạo nhằm kiến thiết đất nước.
Những luận điểm đó không chỉ có ý nghĩa đối với phong trào cách mạng Nga đầu thế kỷ XX, mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với nhiều quốc gia trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều quốc gia đang bước vào kỷ nguyên của kinh tế tri thức và chuyển đổi số, vai trò của thế hệ trẻ càng trở nên quan trọng hơn. Việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin về thanh niên vì thế vẫn giữ nguyên giá trị thời sự, góp phần định hướng cho công tác thanh niên và phát huy nguồn lực trẻ trong sự nghiệp phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Yêu cầu phát huy vai trò thanh niên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước những thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hơn về tư duy và hành động. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực biến động nhanh, phức tạp, cơ hội phát triển luôn song hành với nguy cơ tụt hậu, Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa về tư duy và hành động. Nghị quyết Đại hội đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước”[5]. Đây không chỉ là định hướng mang tính lý luận, mà là mệnh lệnh đối với hệ thống chính trị và toàn lực lượng xã hội. Trong đó, thanh niên trở thành lực lượng đặc biệt, giữ vai trò bản lề giữa hiện tại và tương lai của đất nước.
Theo đó, trước hết, yêu cầu “kiên định và phát triển sáng tạo” đặt lên vai thế hệ trẻ một trách nhiệm kép: vừa giữ vững nền tảng tư tưởng, vừa chủ động đổi mới trong phương thức hành động. Thanh niên là lực lượng có ưu thế nổi trội về khả năng tiếp nhận cái mới, thích ứng nhanh với sự thay đổi của khoa học – công nghệ và môi trường quốc tế. Tuy nhiên, sự năng động ấy chỉ thực sự trở thành nguồn lực tích cực khi được đặt trên nền tảng bản lĩnh chính trị vững vàng, hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong điều kiện các giá trị đa chiều, các trào lưu tư tưởng, văn hóa ngoại lai tác động mạnh mẽ qua không gian mạng và hội nhập quốc tế, thanh niên càng phải là lực lượng tiên phong trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng lập luận khoa học, bằng thái độ tỉnh táo, và bằng chính những thành tựu sáng tạo của mình.

Tuổi trẻ thành phố Đà Nẵng sôi nổi hoạt động trong Tháng Thanh niên năm 2026. Ảnh: HỒNG NGỌC/Báo và phát thanh, truyền hình Đà Nẵng
Thứ hai, định hướng “đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững” hàm chứa yêu cầu tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế theo hướng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đại hội XIV nhấn mạnh nhiệm vụ “nhận diện sớm, tận dụng mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế…”[6]. Trong cấu trúc này, nguồn nhân lực trẻ giữ vị trí trung tâm. Thanh niên hôm nay là thế hệ sinh ra và trưởng thành trong môi trường số, có khả năng tiếp cận nhanh với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Nếu được đào tạo bài bản và trao cơ chế phát huy phù hợp, họ chính là lực lượng trực tiếp tạo ra các đột phá về năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh quốc gia.
Quan trọng hơn, thanh niên không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách phát triển, mà phải trở thành chủ thể sáng tạo chính sách và thực thi chính sách. Điều này đòi hỏi phải tạo môi trường khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thuận lợi, khuyến khích nghiên cứu khoa học, phát triển doanh nghiệp công nghệ do thanh niên làm chủ, đồng thời nâng cao năng lực tham gia quản trị xã hội của thế hệ trẻ. Khi thanh niên được trao quyền tham gia vào quá trình hoạch định và giám sát chính sách công, sức sống của cải cách sẽ được nhân lên, bởi họ mang theo tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm – những phẩm chất đặc biệt cần thiết trong giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển.
Thứ ba, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân “phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất ý chí và hành động; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội vì một nước Việt Nam… phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”[7]. Khát vọng phát triển, dưới góc nhìn chuyên sâu, không chỉ là trạng thái tâm lý tích cực, mà là một nguồn vốn xã hội đặc biệt – vốn niềm tin và vốn động lực. Thanh niên chính là lực lượng có khả năng chuyển hóa nguồn vốn này thành hành động cụ thể. Họ có thể biến khát vọng thành các dự án khởi nghiệp, các công trình nghiên cứu, các sáng kiến cải tiến trong sản xuất, kinh doanh, trong quản lý nhà nước và trong đời sống cộng đồng.
Để làm được điều đó, thanh niên cần được trang bị năng lực tư duy chiến lược, kỹ năng quản trị hiện đại và tinh thần trách nhiệm xã hội cao. Khát vọng phát triển chỉ thực sự có ý nghĩa khi được gắn với đạo đức nghề nghiệp, với ý thức thượng tôn pháp luật và với mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Chính ở điểm này, vai trò giáo dục lý tưởng cách mạng và xây dựng môi trường rèn luyện thực tiễn cho thanh niên trở nên đặc biệt quan trọng. Thế hệ trẻ phải là lực lượng nòng cốt để giải được “bài toán lớn” của thời đại, của quốc gia, dân tộc; phải là lực lượng chủ lực trong hành trình chuyển đổi số trong khu vực công, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, đến nâng cao chất lượng dịch vụ công và phát triển kinh tế tri thức, để khát vọng không dừng lại ở lời kêu gọi, mà trở thành năng lực kiến tạo.
Thứ tư, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV nhấn mạnh phát huy sức mạnh văn hóa và con người như nguồn lực nội sinh, động lực bền vững của phát triển. Trong chiến lược phát triển hiện đại, văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần thuần túy, mà là nền tảng định hình hệ giá trị, chuẩn mực hành vi và chất lượng nguồn nhân lực. Thanh niên là lực lượng đi đầu trong kiến tạo môi trường văn hóa lành mạnh, đề cao các giá trị trung thực, trách nhiệm, sáng tạo và nhân văn.
Trong không gian số hiện nay, nơi các xu hướng lệch chuẩn, thông tin xấu độc có thể lan truyền nhanh chóng, thanh niên càng phải thể hiện vai trò “bộ lọc” và “người dẫn dắt” dư luận tích cực. Họ không chỉ tiếp nhận thông tin, mà còn sản xuất nội dung, lan tỏa giá trị tốt đẹp, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra thế giới. Đồng thời, thanh niên phải là lực lượng tiên phong trong phòng, chống các biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống thực dụng, vô cảm trước các vấn đề xã hội. Khi thế hệ trẻ giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, thì sức mạnh nội sinh của quốc gia sẽ được củng cố vững chắc.
Tóm lại, các định hướng lớn của Đại hội XIV đặt ra yêu cầu cấp thiết cần chuyển hóa thời cơ thành động lực phát triển bằng sức mạnh trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng của con người Việt Nam. Trong tiến trình đó, thanh niên có vai trò quan trọng, thể hiện ở ba phương diện cốt lõi: giữ vững nền tảng tư tưởng và bản lĩnh chính trị; tạo đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời xây dựng hệ giá trị văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Khi thanh niên thực sự trở thành chủ thể của quá trình đổi mới, những định hướng chiến lược của Đại hội XIV mới có thể được hiện thực hóa bằng những thành tựu cụ thể, thiết thực và lâu dài.
Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin trong phát huy vai trò, trách nhiệm của thanh niên
Trên nền tảng vận dụng những luận điểm cơ bản của V.I. Lênin về thanh niên, đặt trong bối cảnh yêu cầu chiến lược mà Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã đề ra, cần cụ thể hóa thành những định hướng phù hợp với mục tiêu phát triển mới của đất nước. Cụ thể như sau:
Một là, tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, củng cố bản lĩnh chính trị cho thanh niên trong bối cảnh mới
Một trong những chỉ dẫn xuyên suốt của Lênin là thanh niên phải được giáo dục lý tưởng cách mạng, được trang bị thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Điều này không chỉ là định hướng chung cho toàn Đảng, mà còn là yêu cầu cụ thể đối với công tác giáo dục thế hệ trẻ. Trong điều kiện toàn cầu hóa, chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, thanh niên có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin đa chiều; nếu không được trang bị nền tảng tư tưởng vững chắc, rất dễ dao động trước những quan điểm sai trái, thù địch.
Do đó, vận dụng tư tưởng của Lênin hiện nay cần được hiểu là đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức giáo dục lý luận chính trị cho thanh niên. Không thể chỉ dừng ở việc truyền đạt kiến thức một chiều, mà phải gắn lý luận với thực tiễn phát triển đất nước, với các vấn đề thời sự như chuyển đổi số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Khi thanh niên hiểu rõ vì sao Đảng xác định “phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng”[8], họ sẽ thấy được trách nhiệm cụ thể của mình trong từng lĩnh vực, nỗ lực hoàn thành trách nhiệm của “thế hệ vươn mình” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Giáo dục lý tưởng còn phải gắn với xây dựng đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm xã hội. Và trung thành với lý tưởng cộng sản không phải là lời nói suông, mà phải được thể hiện bằng hành động cụ thể trong việc đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn. Thanh niên, đặc biệt là thanh niên trong các cơ quan nhà nước, cần ý thức rằng mỗi quyết định, mỗi hành vi công vụ đều gắn với uy tín của Đảng và niềm tin của Nhân dân.
Hai là, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên trong đột phá khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế
Lênin từng khẳng định nhiệm vụ trung tâm của thanh niên trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội là học tập để làm chủ khoa học, kỹ thuật và tổ chức xã hội mớ. Tinh thần ấy đặc biệt phù hợp với yêu cầu mà Đại hội XIV đặt ra về “đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế”.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thanh niên là lực lượng có khả năng thích ứng nhanh nhất với công nghệ mới, tư duy mới và mô hình phát triển mới. Do đó, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin hiện nay chính là tạo điều kiện để thanh niên đi đầu trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, kinh tế số, chính phủ số, xã hội số. Không chỉ là người sử dụng công nghệ, thanh niên phải trở thành người sáng tạo công nghệ, làm chủ nền tảng, sản phẩm và dịch vụ mới.
Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “nhận diện sớm, tận dụng mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức” để phát triển nhanh và bền vững. Điều này đòi hỏi tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đột phá phản ánh đúng tinh thần, phẩm chất vốn là thế mạnh của tuổi trẻ. Tuy nhiên, để tinh thần xung kích ấy phát huy hiệu quả, cần có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo, đồng thời kiểm soát quyền lực và phòng ngừa rủi ro. Thanh niên cần được giao nhiệm vụ trong các đề án trọng điểm, được tham gia hoạch định chính sách ở những lĩnh vực mới nổi, từ đó tích lũy kinh nghiệm và khẳng định năng lực.
Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế cũng là một không gian rộng mở để thanh niên thể hiện vai trò. Đại hội XIV xác định phải “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”. Thanh niên với trình độ ngoại ngữ, kỹ năng số và khả năng thích ứng cao chính là cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với thế giới. Việc tham gia các chương trình hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học chung, trao đổi học thuật và khởi nghiệp toàn cầu sẽ góp phần nâng cao vị thế quốc gia, đồng thời giúp thanh niên mở rộng tầm nhìn, củng cố niềm tin vào con đường phát triển mà Đảng đã lựa chọn.
Ba là, bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm xã hội, ý thức phụng sự Nhân dân và khát vọng cống hiến
Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao trách nhiệm tự thân của mỗi thanh niên trong việc bồi dưỡng năng lực, tăng cường trách nhiệm giải quyết các vấn đề xã hội. Thanh niên không chỉ chờ đợi chính sách hỗ trợ, mà phải chủ động rèn luyện, nêu cao tinh thần xung kích, sẵn sàng đến những nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa để đóng góp cho sự phát triển chung. Đại hội XIV kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân “phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”. Lời kêu gọi ấy càng có ý nghĩa đối với thế hệ trẻ, những người đang trực tiếp sống và làm việc trong kỷ nguyên mới. Khát vọng phát triển đất nước không thể tách rời khát vọng lập thân, lập nghiệp của mỗi thanh niên. Khi cá nhân thành công gắn với sự phát triển của quốc gia, khi lợi ích cá nhân hài hòa với lợi ích cộng đồng, thì khát vọng phát triển mới trở thành động lực bền vững.
Vận dụng tư tưởng của Lênin ở phương diện này còn là xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh, thực sự là môi trường rèn luyện, cống hiến và trưởng thành của thanh niên. Tổ chức Đoàn cần đa dạng hóa hình thức hoạt động, gắn với các phong trào tình nguyện, khởi nghiệp, sáng tạo, bảo vệ môi trường, chuyển đổi số cộng đồng… để thanh niên có cơ hội thể hiện trách nhiệm xã hội. Đồng thời, cần phát hiện, bồi dưỡng và giới thiệu những đoàn viên ưu tú cho Đảng, bảo đảm sự kế tục liên tục và vững chắc của đội ngũ cán bộ.
Tóm lại, vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin trong thực hiện khát vọng phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIV đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa giáo dục lý tưởng, phát huy vai trò xung kích trong đổi mới sáng tạo và bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm xã hội. Thanh niên phải vừa vững vàng về chính trị, vừa giỏi chuyên môn, vừa giàu khát vọng cống hiến; đồng thời Đảng và Nhà nước phải tạo cơ chế, môi trường và điều kiện để sức trẻ được phát huy tối đa.
Theo nguồn: https://dangbodanang.vn/chi-tiet/van-dung-sang-tao-tu-tuong-cua-vi-lenin-trong-phat-huy-vai-tro-thanh-nien-thuc-hien-khat-vong-phat-trien-at-nuoc-84959
Giám định giúp xác định chính xác các thông tin quan trọng về máy móc như chủng loại, số lượng, xuất xứ, năm sản xuất và tình trạng hiện tại, từ đó đảm bảo an toàn lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát chất lượng sản phẩm và tuân thủ quy định pháp luật.
Giám định máy móc thiết bị là một quy trình quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt đối với các đơn vị nhập khẩu hoặc sử dụng máy móc đã qua sử dụng. Thông qua hoạt động giám định, các thông tin quan trọng như chủng loại, số lượng, xuất xứ, năm sản xuất và tình trạng kỹ thuật của thiết bị được xác định một cách chính xác, từ đó giúp doanh nghiệp bảo đảm an toàn lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát chất lượng sản phẩm và tuân thủ các quy định pháp luật.

Giám định máy móc thiết bị góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất (Ảnh minh họa)
Xét về vai trò, giám định máy móc thiết bị đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp và nền kinh tế.
Trước hết, đối với doanh nghiệp giám định giúp phát hiện sớm các nguy cơ tiềm ẩn trong quá trình vận hành, từ đó bảo đảm máy móc thiết bị hoạt động an toàn, góp phần bảo vệ người lao động và hạn chế các tai nạn lao động đáng tiếc. Đồng thời, thông qua việc đánh giá chính xác tình trạng kỹ thuật của thiết bị, doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch bảo trì, sửa chữa hoặc nâng cấp phù hợp, giúp tối ưu hiệu suất vận hành, giảm thời gian dừng máy và nâng cao năng suất lao động.
Mặt khác, máy móc thiết bị đạt tiêu chuẩn kỹ thuật sẽ góp phần bảo đảm chất lượng sản phẩm, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Hoạt động giám định cũng giúp xác định giá trị thực tế của máy móc, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc quản lý, mua bán và đầu tư tài sản một cách hiệu quả, tránh lãng phí và thất thoát. Hơn nữa, việc giám định còn giúp doanh nghiệp đáp ứng các quy định pháp lý liên quan đến an toàn lao động và nhập khẩu máy móc thiết bị, qua đó hạn chế rủi ro pháp lý và tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra ổn định.
Không chỉ mang lại lợi ích cho từng doanh nghiệp, giám định máy móc thiết bị còn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế. Khi máy móc được kiểm tra và vận hành hiệu quả, năng suất lao động chung của nền kinh tế được cải thiện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, hoạt động giám định hỗ trợ quá trình nhập khẩu và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp hiện đại hóa sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ngoài ra, việc kiểm soát tình trạng kỹ thuật của máy móc cũng giúp hạn chế các yếu tố gây ô nhiễm từ hoạt động sản xuất, góp phần bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững. Nhờ đó, chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp được nâng cao, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.
Theo nguồn: Uỷ ban TCĐLCL Quốc gia
Ngày 16/02/2026, được sự ủy quyền của Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia đã ban hành Quyết định số 1298/QĐ-BKHCN về việc chỉ định Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2 (Trung tâm Kỹ thuật 2) thực hiện thử nghiệm sản phẩm chiếu sáng bằng công nghệ LED theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 19:2019/BKHCN.
Việc được chỉ định là sự ghi nhận, khẳng định năng lực chuyên môn, hệ thống quản lý chất lượng và cơ sở vật chất kỹ thuật của Trung tâm Kỹ thuật 2 trong lĩnh vực thử nghiệm, đánh giá sự phù hợp. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc lĩnh vực thiết bị điện – điện tử; bảo đảm các yêu cầu về an toàn, tương thích điện từ và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
Danh mục phép thử được chỉ định bao gồm hệ thống các chỉ tiêu kỹ thuật áp dụng đối với nhiều nhóm sản phẩm, cụ thể:
– Đèn điện chiếu sáng bằng công nghệ LED;
– Bóng đèn LED có balát lắp liền dùng cho chiếu sáng thông dụng làm việc ở điện áp lớn hơn 50 V;
– Bóng đèn LED hai đầu thay thế bóng đèn huỳnh quang ống thẳng;
– Thiết bị chiếu sáng và thiết bị tương tự bằng công nghệ LED.



Theo Quyết định, Trung tâm Kỹ thuật 2 có trách nhiệm thực hiện hoạt động thử nghiệm theo đúng phạm vi được chỉ định; tuân thủ đầy đủ các quy định, hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả đánh giá sự phù hợp do đơn vị thực hiện. Quyết định có hiệu lực đến ngày 31/5/2026.
Mở rộng phạm vi chỉ định đối với sản phẩm LED theo QCVN 19:2019/BKHCN được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thiết bị chiếu sáng trong quá trình chứng nhận hợp quy, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thúc đẩy phát triển bền vững.
———————————–
Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2
🏢 Địa chỉ: 97 Lý Thái Tổ, phường Thanh Khê & 02 Ngô Quyền, phường Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
☎ Điện thoại: (0236) 3848376
🌏Website: www.quatest2.gov.vn
Nhằm đồng hành cùng cộng đồng Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) vượt qua các rào cản kỹ thuật, tối ưu hóa chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm để phát triển bền vững, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2 (Trung tâm Kỹ thuật 2) kính thông báo triển khai Nhiệm vụ:
“Hỗ trợ công nghệ; tư vấn; đào tạo; hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị năm 2026”
💎QUYỀN LỢI KHI THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH:
Các Tổ chức/Doanh nghiệp sẽ nhận được hỗ trợ một phần kinh phí và chuyên môn trong các hoạt động:
🔹Đào tạo kiến thức về kiểm soát chất lượng sản phẩm;
🔹Hướng dẫn xây dựng và kiểm soát chất lượng sản phẩm theo các kế hoạch, tiêu chuẩn được thiết lập;
🔹Hướng dẫn thực hiện tự công bố sản phẩm theo quy định;
🔹Thử nghiệm mẫu sản phẩm theo đăng ký, hướng đến hài hòa với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng áp dụng.

Thư mời
📩 CÁCH THỨC ĐĂNG KÝ:
Quý Tổ chức/Doanh nghiệp quan tâm xin vui lòng liên hệ:
📍 Phòng Nghiệp vụ 2, Trung tâm Kỹ thuật 2
🏠 Địa chỉ: Số 02 Ngô Quyền, phường Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
📞 Điện thoại: 0983 394 887 (Bà Nguyễn Thị Thạnh)
📧 Email: n2@quatest2.gov.vn hoặc lập và gửi lại Phiếu đăng ký đính kèm
Đường link Phiếu đăng ký: https://bit.ly/4kPqzpy
Trân trọng thông báo và kính mời Quý Tổ chức, Doanh nghiệp quan tâm đăng ký tham gia.
——————————–
Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2
🏢 Địa chỉ: 97 Lý Thái Tổ, phường Thanh Khê & 02 Ngô Quyền, phường Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
☎ Điện thoại: (0236) 3848376